Câu hỏi:

Tôi công tác tại Công ty CP Sửa chữa tàu biển Nosco - Vinaliné nay là CTY CP Nosco Shipyard. Sau thời gian 03 tháng thay đổi cơ cấu HĐQT và BLĐ, tôi không được bố trí công việc phù hợp, đồng thời ông CT HĐQT mới nhiều lần ép tôi nghỉ việc. Đến đầu tháng 5/2019, tôi làm đơn xin nghỉ và xin chấm dứt HĐLĐ, nhưng đến nay (1/2020), Công ty CP Nosco Shipyard vẫn chưa chấm dứt HĐLĐ cho tôi. Công ty đang còn nợ tôi 35 tháng tiền lương tương đương gần 380 triệu đồng. Vậy sau bao năm làm việc công hiến cho công ty đến giờ ép tôi nghỉ việc và không trả tôi lương thì Cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành là Sở Lao động và Thị xã Quảng Yên làm gi để bảo vệ quyền lợi cho tôi?
Ngày hỏi 10/01/2020

Lĩnh vực: Văn hóa, xã hội
Công dân: Đỗ Kim Cương
Số 07, tổ 28, thị trấn Đông Anh, Hà nội

Trả lời:

Đơn vị trả lời: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội

Sau khi xem xét nội dung hỏi và quy định của pháp luật lao động, BHXH hiện hành Sở Lao động - TB&XH trả lời ông/bà như sau:

I. Quy định của pháp luật về quyền và trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng lao động:

1. Về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động được quy định tại Điều 37 - Bộ Luật lao động năm 2012:

(1) Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

(2) Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

(3) Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tại Điểm d Khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Lao động trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 11 Nghị định 05/2015/NĐ-CP:

a) Phải nghỉ việc để chăm sóc vợ hoặc chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố vợ, mẹ vợ hoặc bố chồng, mẹ chồng, con đẻ, con nuôi bị ốm đau, tai nạn;

b) Khi ra nước ngoài sinh sống hoặc làm việc;

c) Gia đình gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh hoặc chuyển chỗ ở mà người lao động đã tìm mọi biện pháp nhưng không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động.

2. Về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động được quy định tại Điều 47 Bộ luật Lao động năm 2012:

(1) Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

(2) Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

(3) Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

(4) Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán.

II. Về việc chấm dứt hợp đồng lao động của ông/bà Đỗ Kim Cương:

Theo nội dung ông/bà nêu trên Cổng Thông tin điện tử:"Sau thời gian 03 tháng thay đổi cơ cấu HĐQT và BLĐ, tôi không được bố trí công việc phù hợp đồng thời ông chủ tịch HĐQT mới nhiều lần ép tôi nghỉ việc. Đến đầu tháng 5.2019 tôi làm đơn xin nghỉ và xin chấm dứt HĐLĐ, nhưng đến nay (tháng 01/2020), Công ty vẫn chưa chấm dứt HĐLĐ cho tôi. Công ty đang còn nợ tôi 35 tháng tiền lương tương đương gần 380 triệu đồng".

Như vậy việc việc ông/bà đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đã được thực hiện theo quy định của pháp luật lao động; tuy nhiên đến nay (tháng 01/2020), Công ty vẫn chưa thực hiện trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông/bà và chưa thanh toán cho ông/bà 35 tháng tiền lương đã làm việc (tương đương gần 380 triệu đồng); để giải quyết vấn đề này, đề nghị ông/bà:

(1) Liên hệ với tổ chức Công đoàn Công ty để được hướng dẫn, can thiệp nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình; hoặc thông qua Hòa giải viên lao động của thị xã Quảng Yên để yêu cầu được giải quyết;

(2) Hoặc nếu có căn cứ cho rằng hành vi của người sử dụng lao động là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì ông/bà có quyền khiếu nại theo quy định tại Chương II Nghị định số 24/2018/NĐ-CP ngày 27/02/2018 của Chính phủ quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực lao động, giáo dục nghề nghiệp, hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, việc làm, an toàn, vệ sinh lao động.

(3) Hoặc khởi kiện vụ án tại tòa án theo quy định tại Khoản 2 Điều 10 Nghị định số 24/2018/NĐ-CP để được thụ lý giải quyết.

III. Về việc giải quyết của các cơ quan quản lý Nhà nước:

Năm 2018 và 2019, Sở Lao động - TB&XH có nhận được phản ánh của người lao động trong Công ty về việc Công ty nợ lương, nợ BHXH đối với người lao động; Sở Lao động - TB&XH đã chủ trì, phối hợp với Liên đoàn Lao động tỉnh, Công an tỉnh và Uỷ ban nhân dân thị xã Quảng Yên làm việc với Công ty để xác định và làm rõ nội dung phản ánh. Tại các buổi làm việc, Công ty có báo cáo về tình trạng hoạt động sản xuất kinh doanh khó khăn, thua lỗ dẫn đến nợ tiền lương, BHXH là có thật. Tại buổi làm việc, Sở Lao động - TB&XH cùng các cơ quan chức năng đã yêu cầu Công ty thực hiện một số nội dung sau: (1) Thông báo đầy đủ cho người lao động (k c người lao động đã chm dt HĐLĐ) được biết v trách nhim gii quyết các khon còn n đối vi người lao động. Đồng thi thông báo l trình để gii quyết các khon còn n lương, BHXH, chế độ m đau, thai sn, chm dt HĐLĐ ca người lao động cho người lao động được biết và công ty phi thc hin nghiêm túc có trách nhim cam kết vi người lao động. (2) Phi xây dng phương án s dng lao động hp lý, thc hin đầy đủ chế độ cho người lao động theo quy định khi hot động sn xut kinh doanh gp khó khăn v đơn hàng...; (3) Thc hin đầy đủ chế độ báo cáo theo quy định ca pháp lut và yêu cu ca chính quyn chc năng có thm quyn; (4)Báo cáo, thông tin đến cơ quan chc năng để được hướng dn, h tr khi việc thc hin pháp lut lao động có nhng vướng mc, khó khăn.

Công ty đã có báo cáo số 825/BC ngày 19/12/2019 về tình hình lao động, tiền lương, BHXH; trong đó có nội dung:

- Về tiền lương của người lao động: từ tháng 4/2019 tới thời điểm hiện tại, Công ty đã thực hiện thanh toán tiền lương hằng tháng cho người lao động vào ngày 10-15 của tháng kế tiếp; số lương còn nợ của người lao động, Công ty có lộ trình thanh toán dần và thực hiện từ quý I/2020 đến hết tháng 4/2021.

- Về nộp tiền quỹ BHXH: từ tháng 4/2019 trở đi, Công ty thực hiện trích nộp các khoản phát sinh hằng tháng; còn về số nợ quỹ BHXH từ tháng 3/2019 trở về trước, Công ty có lộ trình thanh toán hết cho cơ quan Bảo hiểm xã hội đến tháng 4/2021.

Sở Lao động - TB&XH cùng các ngành chức năng đang tiếp tục theo dõi việc thực hiện các nội dung cam kết của Công ty.


Tìm kiếm câu hỏi - theo chuyên mục - từ khóa

Danh sách câu hỏi
Bản đồ

Lịch công tác trống

Tin tiêu điểm
Website liên kết
Câu hỏi khảo sát

Theo bạn nội dung cung cấp trên cổng thông tin điện tử như thế nào?


Thống kê truy cập
Hôm nay: 0
Đã truy cập: 0

© Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh

Giấy phép xuất bản: số 53/GP-TTĐT ngày 27/05/2015 - Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử - Bộ Thông tin và Truyền thông.

- Cơ quan chủ quản: Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Cơ quan quản lý nhà nước và thường trực kỹ thuật: Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh.

- Quản lý nội dung trang chủ: Trung tâm Truyền thông tỉnh.

- Quản lý nội dung các Cổng thành phần: Thủ trưởng các cơ quan, tổ chức. 

Ghi rõ nguồn "Quảng Ninh Portal" khi phát hành lại thông tin từ  Website này.